TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ ĐẤT VIỆT JSC    Công ty cổ phần tư vấn thiết kế xây dựng Đất Việt - Địa chỉ: 246 Đà Nẵng - Hải Phòng Tel/Fax : 031.3746088 E-mail: datviet@datvietjsc.net.vn minhtri@datvietjsc.net.vn
  Trang chủ
  Giới thiệu
  Tin tức
  Văn nghệ
  Kiến trúc
  Hội , câu lạc bộ
  Quảng cáo
  Thư viện
 
  Liên hệ
CQ Đảng, Nhà nước
Thông tin đại chúng
Các trang web khác
  Thăm dò dư luận
Bạn hay quan tâm đến mục nào trên website ?
Giới thiệu
Tin tức mới
Văn nghệ
Kiến trúc
Hội, câu lạc bộ
  
TỶ GIÁ NGOẠI TỆ
  Số người truy cập
Số người online: 16
Tổng số truy cập: 9661317
 
 

ao nit nguc | áo ngực | áo nịt ngực đồ lót | do lot | bikinis quan ao boi | quần áo bơi | bộ đồ bơi do ngu | đồ ngủ | bộ đồ ngủ | quần áo ngủ dam cong so | đầm công sở dam du tiec | đầm dự tiệc dam thu dong | đầm thu đông chan vay | chân váy ao so mi nu | áo sơ mi nữ ao cuoi, vay cuoi | áo cưới, váy cưới vay lien | váy liền ngoisao | ngoi sao | ngôi sao ngoi sao may man | ngôi sao may mắn ngoisaomayman mua ban | mua bán rao vat | rao vặt dang tin rao vat | đăng tin rao vặt mua ban truc tuyen | mua bán trực tuyến me va be | baby | mẹ và bé me va be | mẹ và bé thoi trang tre em | thời trang trẻ em | quần áo trẻ em thoi trang tre em | thời trang bà bầu thoi trang cong so | thời trang công sở

CLB Hải Phòng Học
Đất và người Cát Hải (Phần 1)

Người cổ Cát Bà chính là một bộ tộc thành viên của người Lạc Việt, cư dân của quốc gia Văn Lang, Âu Lạc sau này....

 
Đất và người Cát Hải (Phần 1)

CẢNH QUAN THIÊN NHIÊN VÀ CON NGƯỜI THỜI NGUYÊN THUỶ

          Cát Hải là huyện đảo có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng: án ngữ con đường biển ra vào cảng Hải Phòng, là tiền đồn bảo vệ thành phố. Diện tích tự nhiên toàn huyện là 345 km2, gồm hai đảo: Cát Hải diện tích xấp xỉ 40km2 và Cát Bà diện tích hơn 300km2. Huyện Cát Hải nằm ở phía bắc, cách trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 60km đường biển: Phía Bắc giáp huyện Yên Hưng (Quảng Ninh) qua dòng sông Phượng; phía tây giáp đảo Đình Vũ, phía đông và nam trong ra vịnh Bắc Bộ. Huyện Cát Hải nằm trong chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa đại dương: Nhiệt độ trung bình 230 C, nhiệt độ cao nhất 32oC; độ ẩm trung bình 85%; lượng mưa 1700mm/năm, tháng có lượng cao mưa nhất 332mm. Tổng số giờ nắng 1609 giờ/năm, tháng cao nhất 188 giờ. Hướng gió thịnh hành trên đảo là đông-đông bắc và đông-đông nam. Ngoài hai hướng gió chính, Cát Hải còn xuất hiện một số trận gió khô nóng hướng tây nam, từ tháng 6 đến tháng 8. Bão thường xuất hiện từ tháng 7 đến tháng 10, bình quân 2,5 trận/năm. Bão gió thường kèm theo mưa lớn hay gây lụt lội trong các thung áng ở Cát Bà. Trận bão lớn ngày 26-9-1955 và trận bão ngày 22-7-1986 không chỉ gây thiệt hại về người và của mà còn làm sạt lở hàng trăm mét kè biển khu Đôn Lương. Riêng trận bão ngày 26-9- 1955 kèm theo sóng lớn đã phá huỷ sâu vào đảo Cát Hải có chỗ hơn 100m.

     Thuỷ triều ở Cát Hải phố biến là chế độ nhật triều, lên xuống khá đều. Mức triều trung bình từ 3,3-3,5m, cao nhất 4m. Mùa hạ thuỷ triều cao nhất vào các tháng 5,6,7; thấp nhất vào các tháng 8,9. Mức triều thường lên cao vào các buổi chiều. Mùa đông thuỷ triều lên cao nhất vào các tháng 10,11,12, thấp nhất vào các tháng 3,4; nước triều thường lên cao vào buổi sáng.

     Địa hình huyện chia thành 2 vùng rõ rệt: khu Đôn Lương (Cát Hải) và khu Hà Sen (Cát Bà). Khu Đôn lương chạy từ bến Gót đến hòn Chẫu, dài 6km, rộng 2-2,5km, nằm giữa 2 đảo Phù Long và Đình Vũ. Đôn Lương là một bãi bồi bằng phẳng, trống trải, mỏng yếu được cấu tạo bằng dãy cát pha chạy song song, cao 2-2,5m rất dễ bị sóng chiều xâm thực, xói mòn. Giữa các dãy cát là vùng trũng lớn tạo nên các ruộng muối và đầm lầy. Do đặc tính địa chất công trình và sự thiếu hụt bồi tích nên ở đây có hiện tượng “trụt cát”. Đặc biệt, khu vực đình Gia Lộc, bờ bị xói lở mạnh, do ở đây không có bãi biển mà chỉ có thềm mài mòn cấu tạo cát dài vài chục mét, bên dưới là bãi triều cát rộng 3-5km bị ngập nước khi triều lên. Rìa phía nam xã Hoàng Châu và xã Gia Lộc tuy đã có kè đá nhưng vẫn bị xói lở và phá huỷ nếu gặp bão lớn. Phía bắc đảo Cát Hải là bãi triều bùn rộng hàng chục km, xưa kia thực vật ngập mặn phù kín. Theo số liệu điều tra, từ năm 1938-1965, tốc độ xói lở hàng năm là 18m.

     Khu Hà Sen chạy từ thị trấn Cát Bà đến Gia Luận chếch theo hướng tây bắc-đông nam dài khoảng 25km, chiều ngang trên dưới 10km gồm một đảo  chính và gần 400 đảo nhỏ, có dạng tháp kiểu phong linh và dạng chóp kiểu phong tùng. Tên gọi của các đảo phần lớn thể hiện hình dáng của chúng mà con người tưởng tưởng ra, như hòn Ớt, hòn Chuông, Mai Rùa, Lã Vọng, hòn Guốc, Đuôi Rồng, hòn Báo, hòn Sư Tử, Vườn Qủa…Quần đảo Cát Bà chủ yếu là địa hình karstơ nhiệt đới bị ngập chìm do biển tiến gần đây. Hoạt động karstơ đã tạo nên cảnh quan độc đáo, nhiều dạng địa hình đặc biệt như hang động, măng đá, chuông đá, các giếng, phiễu karstơ và các thung lũng karstơ. Trên quần đảo Cát Bà có các hang động nổi tiếng như: Hoa Cương, Trung Trang, Quân Y, Áng Mả, Phù Long… Đảo chính Cát Bà rộng khoảng 144km2, chỗ cao nhất 331m, là đảo đá vôi lớn nhất trong hệ thống quần đảo phía nam vịnh Hạ Long và vùng ven bờ tây Biển Đông. Toàn đảo Cát Bà là vùng núi non hiểm trở có độ cao từ 50-200m, độ dốc sườn núi trung bình 30-40 độ; nơi thấp nhất là Áng Tôm, thấp hơn mặt nước biển 10-30m; đỉnh cao nhất là Cao Vọng nằm ở phía bắc đảo, cao khoảng 331m. Địa hình Cát Bà chủ yếu là núi đá vôi xen kẽ nhiều thung lũng lớn nhỏ. Thung lũng lớn nhất là áng Trung Trang (Vườn Quốc gia Cát Bà), rộng 300ha. Phía nam là dải đất diệp thạch có độ cao trên dưới 200m, chạy sát bờ biển, địa hình trơ trụi, chỉ được phủ một lớp cỏ thấp như Trân Châu, Xuân Đám, Hiền Hào và thị trấn Cát Bà. Vùng chân đảo phía tây-tây nam có dạng địa hình bãi bồi với các bồi sinh thái ngập mặn (Cái Viềng, Phù Long), các áng kín gió và bãi cát mịn (Đượng Gianh, Cát Cò). Qua quá trình phong hoá, rửa trôi, bồi tụ, đất đai trên đảo Cát Bà có thể phân ra thành 5 nhóm chủ yếu như: Đất trên núi đá vôi có độ PH trung bình phân bố rải rác trong vùng được thảm rừng che phủ; đất đồi pheralit ít chua mặn, gần trung tính, phấn bố ở Trung Trang, Gia Luận, Việt Hải, Xuân Đám, Hiền Hào; đất vùng thung lũng cạn ở Trung Trang, Gia Luận, Việt Hải có rừng tự nhiên che phủ; đất thung lũng ngập nước phân bố ở các cánh đồng của các xã và vườn quốc gia trên đảo. Về tài nguyên khoáng sản, ngoài đá vôi, đảo Cát Bà còn có nguồn nước khoáng (xã Xuân Đám có mỏ nước khoáng nóng 38 độ C) có giá trị chữa trị một số bệnh mãn tính về da, đường tiết liệu, tiêu hoá, tim mạch... Cát Bà có  các hệ sinh thái tiêu biểu như: rừng mưa nhiệt đới trên núi đá vôi, rừng ngập mặn, rạn san hô, thảm rong cỏ biển, hệ sinh thái hang động, tùng áng…Rừng nguyên sinh trên đảo là một trong những rừng nguyên sinh đẹp nhất nước ta, có đa dạng sinh học cao, đã thống kê được 745 loài thực vật, trong đó có những loài gỗ quý như kim giao, trai lỳ, chò đát, lát hoa và nhiều cây làm thuốc, như thuyết giáo, hương nhu, bình vôi, cốt toát, kim ngân, lá khôi…Hệ động vật trên cạn có trên 200 loài, gồm khoảng 20 loài thú, 69 loài chim, 15 loài bò sát và 11 loài lưỡng cư; trong đó có 10 loài thú và 6 loài chim quý hiếm như: voọc đầu trắng/voọc Cát Bà, mèo rừng, khỉ đuôi vàng, khỉ đuôi lợn, khỉ mặt đỏ, nai, hoẵng, sơn dương, cầy nhông, nhím, chim cu gáy, chim đa đa, cu xanh, chim ngói và 2 loài chim nước là vịt trời, sâm cầm… Đặc biệt, loài đặc hữu voọc đầu trắng duy nhất trên thế giới chỉ còn vài chục cá thể ở quần đảo và đã trở thành biểu tượng của khu dự trữ sinh quyển thế giới Cát Bà. Sinh vật biển thuộc vùng biển- đảo Cát Hải cũng rất phong phú, đa dạng, với trên 1.200 loài, thì có tới 30 loài cỏ biển, 36 loài thực vật ngập mặn, 590 loài động vật đáy, 20 loài san hô, 207 loài cá; trong đó có không ít loài thuộc loại quý hiếm được ghi vào sách đỏ Việt Nam và nhiều loài đặc sản có giá trị kinh tế cao như: rong guột, rong đá cong, rong mơ mềm, ốc đụn, tu hài, trai ngọc,, đồi mồi, rùa da, vích, sò huyết, cá mực, cua bể, cá song, cá thu, cá chim, ghẹ…Vịnh Lan Hạ (Cát Bà) là một trong những vịnh biển đẹp nhất trong quần thể danh thắng Vịnh Hạ Long (di sản thiên nhiên thế giới) và khu dự trữ sinh quyển thế giới Cát Bà.

     Huyện Cát Hải là vùng đất cổ xưa, nhưng cũng rất trẻ trung: vùng đất cổ Cát Bà được hình thành từ cuối nguyên đại cổ sinh sớm (khoảng 410 triệu năm cách ngày nay) nhờ chuyển động tạo núi Celadoni và chế độ lục địa kéo dài suốt nguyên đại Trung sinh (cách ngày nay khoảng 240-267 triệu năm). Trong thế thuỷ cánh tân (cách ngày nay 250 vạn năm đến 60 vạn năm) và thế cánh tân (cách ngày nay 60 vạn năm đến 1 vạn năm), giữa Cát Bà với Vịnh Hạ Long và với các quần đảo thuộc Đông Nam Á, châu  Dương vẫn chưa bị biển ngăn cách, mà được nối liền bằng đồng bằng thấp, những eo cát, hoặc những bãi lầy. Đó là một đặc điểm quan trọng của địa lý cổ, giúp chúng ta giải thích được những sự giống nhau về nhiều mặt của người nguyên thuỷ ở khu vực này. Tại quần đảo Cát Bà, các nhà địa chất đã phát hiện được ranh giới chuyển tiếp giữa hệ Đêvon và Cacbon, ứng với sự thay đổi lớn về sinh giới và sự biến đổi đột ngột các giá trị cổ tương tự như ở Tây Ban Nha. Ranh giới này cực kỳ quý hiếm, có giá trị khoa học đặc biệt mang tầm khu vực và thế giới. Nhiều di tích hoá thạch động vật và thực vật cổ xưa lưu giữ trong các tầng trầm tích ở Cát Bà phản ánh những biến cố địa chất vĩ đại và tiến hoá của sự sống hàng trăm triệu năm tại Hải Phòng. Xưa nay,  hầu hết những phát hiện hoá thạch động vật thời Cánh tân ở Hải Phòng đều có nguồn gốc từ quần đảo Cát Bà: năm 1991, những hoá thạch tê giác đầu tiên được tìm thấy ở hang Đá Trắng (xã Gia Luận); năm 1998 phát hiện thêm được những hoá thạch quan trọng khác tại hang này, gồm một răng nanh thuộc hàm trên và một răng nanh thuộc hàm dưới của một loại đười ươi lùn, có tên khoa học là Pongo Pygmeaeus, hoá thạch răng lợn rừng, hưu, nai, nhím…cách ngày nay khoảng 30.000 năm. Những phát hiện này không chỉ giúp các nhà khoa học tìm hiểu quần xã động vật trên đảo từ hơn 3 vạn năm trước, mà còn cung cấp những chỉ thị đáng tin cậy về môi trường sống của con người thời nguyên thuỷ. Nhiều tài liệu đã chứng minh rằng, để có thể săn bắn được những loài động vật hoang dã nói trên, con người cổ sinh sống trong môi trường đó đã phải có cách thức tổ chức lao động và phân phối thức ăn mang tính tập thể, công bằng và hợp lý.

     Tài liệu khảo cổ học đã xác nhận Cát Bà là một trong những nơi có con người nguyên thuỷ khá sớm. Khoảng thời gian biển tiến (theo tài liệu địa chất là vào khoảng 17.000-9.000 năm cách ngày nay), hệ thống các đảo trong vịnh Bắc Bộ bị phân tách ra khỏi lục địa. Lúc này, tại vùng biển đảo Hạ Long-Cát Bà đã có một nhóm cư dân chuyên sống trong các hang động đá vôi, mà khảo cổ học gọi là cư dân văn hoá Hoà Bình (có người gọi là văn hoá Soi Nhụn- tên một di chỉ khảo cổ học được phát hiện tại Vịnh Hạ Long). Trong số 67 hang động chứa đựng dấu tích cổ sinh và khảo cổ tìm thấy ở quần đảo Cát Bà như: Áng Giữa, Tiền Đức (xã Việt Hải), hang Giếng Ngóe (thị trấn Cát Bà), cụm hang Áng Mả và Mái đá Ông Bẩy (xã Hiền Hào)… đều có cùng nội dung văn hoá vật chất như các di chỉ văn hoá Hoà Bình ở trong lục địa và di chỉ Soi Nhụ trên Vịnh Hạ Long. Các cư dân thuộc văn hoá Hoà Bình này sống trong môi trường lục địa, họ khai thác ốc trong môi trường nước ngọt để ăn. Tại các di chỉ thuộc văn hoá Hoà Bình trên đảo Cát Bà, hiếm thấy công cụ đá, chủ yếu bắt gặp những công cụ cuội mài lưỡi, công cụ cuội kiểu hình đĩa được chế tạo từ những mảnh cuội bổ kiểu Hoà Bình-Bắc Sơn, thêm vào đó là sự có mặt của những công cụ bằng loại chất liệu đá vôi (đá gốc) bản địa. Nhìn chung, các di chỉ thuộc văn hoá Hoà Bình trên quần đảo Cát Bà thường có tầng văn hoá không dày và chỉ có một tầng văn hoá, chứng tỏ thời gian cư chiếm không lâu. Tuổi xác định trên mẫu ốc nước ngọt lấy từ hang Áng Mả, Mái đá Ông Bẩy bằng phương pháp C14 cho biết niên đại tồn tại của văn hoá Hoà Bình ở Cát Bà là từ 25.000 đến 15.000 năm. Riêng các công cụ cuội mài tìm thấy trong hang Eo Bùa lại thuộc về một giai đoạn muộn hơn và có thể tuổi nhóm di tích tương với Eo Bùa còn kéo dài đến khoảng trên dưới 10.000 năm, thậm chí chỉ trước tuổi của di chỉ Cái Bèo không xa.           Các nhà khảo cổ học cho rằng, đã có một bộ phận cư dân thuộc văn hoá Hoà Bình đã tiến dần ra biển, họ vẫn ở hang động núi đá vôi và tạo nên những trầm tích văn hoá đầy vỏ ốc, với loại hình công cụ lao động đặc trưng là những rìu  ngắn kiểu Hoà Bình, nạo hình đĩa…Điều này đã chứng tỏ lớp cư dân cư trú trên quần đảo Cát Bà nói riêng và vùng ven biển Đông Bắc nói chung thuộc giai đoạn muộn của văn hoá Hoà Bình chính là tổ tiên của cư dân thuộc nền văn hoá Hạ Long, Cái Bèo sau đó. Trong các di chỉ văn hoá Hoà Bình trên quần đảo Cát Bà có những dấu vết chắc chắn của việc sử dụng lửa: những bếp than tro, những đoạn xương thú có vết thui, những hòn đá ám khói đen. Những đống vỏ ốc nước ngọt bị chọc thủng, xương thú bị chặt, bị đập cho phép khẳng định rằng người cổ ở đây có hái lượm và đi săn.

    Khi đường bờ biển được hình thành về cơ bản giống như ngày nay (quãng biển tiến holocene trung, cách ngày nay khoảng 7.000-5.000 năm), con người cư ngụ ở vùng biển Đông Bắc đã có những thay đổi căn bản về phương thức cư trú, họ từ trong hang động bước ra ngoài bãi biển. Sự thay đổi mang ý nghĩa như một cuộc cách mạng kinh tế trong thời tiền sử ở Cát Bà được phản ánh khá rõ nét trong các di chỉ khảo cổ học Cái Bèo (thị trấn Cát Bà), Ao Cối ( xã Phù Long), mái đá Vạ Bạc (xã Xuân Đám)…Kết quả nghiên cứu, khai quật di chỉ khảo cổ học Cái Bèo (thị trấn Cát Bà) cung cấp: Đây là một làng chài cổ có diện tích thuộc loại lớn nhất so với các làng đánh cá khác trên đảo như Ao Cối, Vá Bạc…Chủ nhân di chỉ Cái Bèo đã thành thạo nghề đánh cá biển ở các cửa sông hay vụng biển quanh vùng. Người Cái Bèo đã đánh bắt được những loài cá lớn như cá sạo, cá úc, cá hồng ngự…đều là những loài cá sống trong môi trường nước mặn, biển nông và các loài cá nhám, cá đao…chuyên sống ở biển sâu. Đặc biệt, qua nghiên cứu các đốt sống xương cá trong các tầng văn hoá di chỉ  Cái Bèo, Ao Cối, Xé Bạc…cho biết người cổ Cát Bà đã đánh bắt được nhiều loài cá lớn, có con nặng tới vài tạ. Điều đó chứng tỏ, họ đã đạt trình độ đi biển cực kỳ thành thục và có phương pháp đánh bắt cá ở trình độ cao. Tuổi của làng cổ Cái Bèo được xác định bằng phương pháp C14 là vào khoảng 6475+-205 năm và 5645+-115 năm cách ngày nay. Theo tính toán của các nhà địa chất học, ở thời điểm này, biển còn ở xã bờ hơn hiện nay.

    Di chỉ Cái Bèo và di chỉ Ao Cối đều có địa tầng khá dày (hơn 2m) với đặc điểm là: chủ nhân của các di chỉ này chủ yếu sinh sống ở ngoài trời, đã biết đi biển đánh cá và khai thác thức ăn rừng, chặt cây làm nhà, làm thuyền, biết chế tạo đồ gốm. Công cụ lao động chủ yếu là rìu kiểu Xumatra (những viên cuội hình tròn hay bầu dục, to vừa tầm tay cầm, được ghè đẽo qua loa ở hai mặt hoặc chỉ ở một mặt. Loại rìu này lần đầu tiên được tìm thấy ở ven đảo Xumatra-Inđônêxia), rìu ngắn, rìu dài, nạo, chày và bàn nghiền, bàn mài bằng đá, lao đá, đồ gốm thô có vết nan tre và hoa văn vặn thừng, chì lưới bằng đá…Phần lớn các nhà nghiên cứu đều nhận định rằng nguồn sống chính của người cổ Cái Bèo vẫn là hái lượm và đánh cá. Căn cứ vào số lượng chày và bàn nghiền, có thể đoán rằng ngũ cốc cũng đã là một loại lương thực quan trọng, nhưng chưa tìm thấy bằng chứng đích xác của kinh tế nông nghiệp, còn dấu vết của ngành đánh cá thì khá nổi bật ở di chỉ Cái Bèo, Ao Cối, mái đá Xé Bạc.

    Nhóm cư dân Cái Bèo, Ao Cối định cư muộn hơn nhóm cư dân văn hoá Hoà Bình, nhưng lại sớm hơn nhóm cư dân văn hoá Hạ Long trên quần đảo Cát Bà. Di chỉ khảo cổ học thuộc văn hoá Hạ Long trên đảo Cát Bà khá đậm đặc như lớp trên của di chỉ Cái Bèo, di chỉ Bãi Cát Đồn, Suối Gôi (Xuân Đám), Bãi cát Cánh Phượng…nhưng điển hình nhất là địa điểm Bãi Bến (xã Hiền Hào). Địa tầng của di chỉ Bến Bãi (Hiền Hào) thuần là đất cát, dày hơn 1m và chứa đầy các di vật đặc trưng của văn hoá Hạ Long như: gốm xốp, rìu bôn có vai, có nấc, loại bàn mài rãnh Hạ Long, gốm xốp Hạ Long được nặn tay với kỹ thuật khá thành thạo…Tuổi C14 của di chỉ Bãi Bến khoảng 3.400-3.900 cách ngày nay. Con người Bãi Bến đã biết sử dụng kỹ thuật cưa, khoan, tiện đá và tu ép chỉnh, cho nên chế tạo được công cụ đá đẹp và tốt hơn trước rất nhiều. Tất cả các chế phẩm tìm thấy ở Bãi Bến đều nhẵn nhụi, có hình thù chính xác và rất đẹp. Mô hình kinh tế biển ở các di chỉ thuộc văn hoá Hạ Long trên quần đảo Cát Bà không rõ ràng như giai đoạn trước: trong tầng văn hoá thường ít gặp xương cá, vỏ sò, điệp. Có lẽ, lúc này đánh cá không còn là ngành kinh tế quan trọng lắm nữa, bên cạnh săn bắn, hái lượm vẫn được duy trì, nhưng trồng trọt và chăn nuôi đã trở thành nguồn sống chủ yếu của người Bãi Bến. Tại các di chỉ văn hoá Hạ Long ở Cát Bà đã tìm thấy dấu vết của nghề dệt, kỹ thuật luyện kim, công cụ đá được lắp vào cán gỗ vững vàng và tiện lợi hơn, kỹ nghệ đồ gốm có bước tiến vượt bậc (nặn bằng bàn xoay và nung trong lò). Qua các di chỉ thuộc văn hoá Hạ Long đã phát hiện cho thấy, con người thời kỳ này trên đảo Cát Bà đã tụ tập thành làng xóm khá trù mật, biết làm nhà của khá chu đáo, có bếp, nôi niêu, bát đĩa và các đồ dùng khá đầy đủ, đồ trang sức cũng hết sức phong phú.

       Như vậy trên quần đảo Cát Bà, người nguyên thủy xuất hiện khá sớm, cách đây 1,5-2,5 vạn năm. Đối với người nguyên thuỷ, Cát Bà là một thiên đường giữa trần thế, ngoài rau củ, các loại thức ăn tôm cá, chim thú là nhu cầu không thể thiếu. Nơi ở của họ, những mái đá, những hang động Trung Trang, Giếng Ngéo, Quân Y, Tiền Đức, Đá Hoa, Phù Long, Hang Rí, Áng Mả… là những ngôi nhà tuyệt vời do tạo hoá xây dựng, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông và an toàn trước sự tấn công của mọi kẻ thù. Bây giờ bao quanh các hang động là rừng rú cây cối um tùm, chím thú đầy đàn. Trong thực đơn của người cổ Cát Bà, món ăn thuỷ sản ngày càng khá dồi dào hơn để bữa ăn không đến nỗi nghèo nàn do thực phẩm chim thú ngày càng khan hiếm. Dấu tích những tầng văn hoá chất chứa đầy vỏ ốc núi. ốc biển để lại khá dày trong các hang động, nhưng như thế không có nghĩa là nguồn thức ăn của họ chỉ có ốc và ốc. Có lẽ ốc là một trong những đối tượng săn bắt đầu tiên của người nguyên thuỷ. Người cổ Cát Bà có một quá trình phát triển liên tục, nằm trong cộng đồng người nguyên thuỷ trên đất nước ta. Cuộc sống chủ yếu của họ là hái lượm các loại củ, quả, săn bắt các loại muông thú và đánh bắt cá, tôm. Trong cuộc sống hoang dã, thức ăn chính của họ là khai thác các sản phẩm có sẵn trong tự nhiên. Lúc đầu, họ ở trong các hang động núi đá hoặc mái đá che mưa, che nắng, sống thành các thị tộc, dần dần tiến ra bờ biển, khai phá đất hoang lập thành làng xóm. Cư dân cổ ở các làng biển Cát Bà đã biết mài đá làm công cụ và làm đồ gốm đáy tròn, tức là đi từ kỹ thuật nặn đồ gốm bằng tay đến kỹ thuật làm đồ gốm bằng bàn xoay, biết đi biển đánh cá bằng thuyền, biết trồng lúa nước, phát triển chăn nuôi, làm vườn trồng cây ăn quả, cây ăn củ. Người cổ Cát Bà chính là một bộ tộc thành viên của người Lạc Việt, cư dân của quốc gia Văn Lang, Âu Lạc sau này.

HPH

 

[ Trở lại ]
  Ý kiến bạn đọc
    Ý kiến bạn đọc
 
Họ và tên:
Email:
Tiêu đề:
OFF Auto Telex VNI VIQR
 TIN NÓNG
Ra mắt trang web haiphonghoc.com
Những công trình kiến trúc xây dựng thời thuộc Pháp tại Hải Phòng
Giới thiệu dự án Vinhomes imperia
ĐÔ THỊ CỬA BIỂN
NẮNG MIỀN BIỂN
DOANH NGHIỆP XANH
ĐẾN SÀI GÒN
HÈ QUÊ BIỂN
SAO TUA RUA
GẶP GỠ MÙA HÈ
Xem toàn bộ    
 
CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN THIẾT KẾ XÂY DỰNG ĐẤT VIỆT
Địa chỉ: 246 - Đã Nẵng - Hải Phòng  *  Tel/Fax : 031. 374 6088  *  E-mail: datviet@datvietjsc.net.vn  -  minhtri@datvietjsc.net.vn
Design by in nhanh văn phòng phẩm Vietranet JSC