TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ ĐẤT VIỆT JSC    Công ty cổ phần tư vấn thiết kế xây dựng Đất Việt - Địa chỉ: 246 Đà Nẵng - Hải Phòng Tel/Fax : 031.3746088 E-mail: datviet@datvietjsc.net.vn minhtri@datvietjsc.net.vn
  Trang chủ
  Giới thiệu
  Tin tức
  Văn nghệ
  Kiến trúc
  Hội , câu lạc bộ
  Quảng cáo
  Thư viện
 
  Liên hệ
CQ Đảng, Nhà nước
Thông tin đại chúng
Các trang web khác
  Thăm dò dư luận
Bạn hay quan tâm đến mục nào trên website ?
Giới thiệu
Tin tức mới
Văn nghệ
Kiến trúc
Hội, câu lạc bộ
  
TỶ GIÁ NGOẠI TỆ
  Số người truy cập
Số người online: 4
Tổng số truy cập: 10073405
 
 

ao nit nguc | áo ngực | áo nịt ngực đồ lót | do lot | bikinis quan ao boi | quần áo bơi | bộ đồ bơi do ngu | đồ ngủ | bộ đồ ngủ | quần áo ngủ dam cong so | đầm công sở dam du tiec | đầm dự tiệc dam thu dong | đầm thu đông chan vay | chân váy ao so mi nu | áo sơ mi nữ ao cuoi, vay cuoi | áo cưới, váy cưới vay lien | váy liền ngoisao | ngoi sao | ngôi sao ngoi sao may man | ngôi sao may mắn ngoisaomayman mua ban | mua bán rao vat | rao vặt dang tin rao vat | đăng tin rao vặt mua ban truc tuyen | mua bán trực tuyến me va be | baby | mẹ và bé me va be | mẹ và bé thoi trang tre em | thời trang trẻ em | quần áo trẻ em thoi trang tre em | thời trang bà bầu thoi trang cong so | thời trang công sở

CLB Hải Phòng Học
Đất và người Cát Hải (Phần 2)

Huyện Cát Hải được thành lập năm 1977 trên cơ sở hợp nhất 2 huyện đảo Cát Bà và Cát Hải cũ. Cát Hải là đảo rất trẻ, được sóng vun tụ vào khoảng 1-2 nghìn năm trước...

 
Đất và người Cát Hải (Phần 2)

LỊCH SỬ DÂN CƯ- HÀNH CHÍNH

        Huyện Cát Hải được thành lập năm 1977 trên cơ sở hợp nhất 2 huyện đảo Cát Bà và Cát Hải cũ. Cát Hải là đảo rất trẻ, được sóng vun tụ vào khoảng 1-2 nghìn năm trước. Các dải đê cát của đảo, nhô cao chỉ 2-3m so với mặt biển, nằm gần song song và phân cách với nhau qua các lạch thoát triều, bãi lầy su vẹt hẹp. Đê biển bao Cát Hải thành một khu rộng 15 km2, trên đảo có nước ngầm nhạt, nhạt lợ nằm trong các thể cát mà con người có thể khai thác phục vụ đời sống, sản xuất. Bờ nam bị xói lở mạnh từ lâu và biển lấn đã làm mất đi nhiều đất đai, nhà cửa. Truyền ngôn trong nhân dân kể lại rằng, ngày xưa Cát Hải mở rộng giáp Đồ Sơn và hai nơi cùng nghe chung tiếng gà gáy. Truyền ngôn này khá phù hợp với những chứng cứ vật vật chất hiện tồn như: Các ngôi cổ đình, chùa, đền, miếu cổ của làng Hoàng Châu hiện vẫn lưu vết là những tấm bia, sập đá, cột đá dưới đáy biển, cách bờ hiện nay khoảng 6 km; Trên bãi triều sú vẹt ở vụng Gia Lộc có cây cầu đá cổ còn nguyên vẹn nằm chơ vơ và bị ngập nước khi triều cao; Trong quá trình thi công nạo vét luồng biển Lạch Huyện, người ta phát hiện thấy vô số mảnh sành, gốm sứ thời Đông Hán, Lục triều ở vùng biển quanh đảo. Địa bàn huyện Cát Hải ngày nay vốn là một đơn vị hành chính được thành lập vào loại xưa nhất của thành phố Hải Phòng. Theo các sách chí cũ, thời Bắc Thuộc, địa bàn huyện Cát Hải bây giờ là huyện Ân Phong (có sách chép là Tư Phong, chữ Ân và chữ Tư giống mặt chữ, có thể do khắc hoặc viết nhầm) thuộc Nham Châu. Sau huyện Ân Phong đổi ra là Chi Phong (chữ Chi có nghĩa là chi, phái). Thời thuộc Minh, huyện Chi Phong lệ vào phủ Tân Yên và phủ lỵ phủ Tân Yên có lúc đặt ở xã Hoà Hy của huyện này. Đến thời Lê Sơ, đổi là Chi Phong ( chữ “Chi” có nghĩa là cỏ lệ chi) cho lệ vào phủ Hải Đông, sau lại đổi tên huyện Chi Phong thành Hoa Phong.

        Thời Tây Sơn, huyện Hoa Phong thuộc phủ Hải Đông trấn Yên Quảng (còn gọi là An Quảng). Trước năm 1813, huyện Hoa Phong gồm 2 tổng với 15 xã, phường là tổng An Khoái (sau đổi Đôn Lương) trên đảo Cát Hải và tổng Hà Liên (sau đổi Hà Sen) trên đảo Cát Bà. Tổng An Khoái tương ứng với phần đất của toàn bộ xã Đồng Bài, một phần xã Gia Lộc, toàn bộ thị trấn Cát Hải, xã Hoàng Châu, xã Nghĩa Lộ, xã Văn Phong  trên đảo Cát Hải ngày nay, gồm 10 xã, phường cũ là: An Khoái, An Phong, Đồng Bài, Hoà Hy, Hoàng Châu, Lục Độ, Lương Lãnh, Thiên Lộc, Văn Minh và phường Cao Mại. Sau đổi An Phong thành Phong Niên, Cao Mại thành Cao Minh, Lương Lãnh thành Lương Năng, Thiên Lộc thành Gia Lộc. Tổng Hà Liên bao gồm phần đất tương ứng với các xã Trân Châu, Gia Luận, Phù Long, Xuân Đám, Hiền Hào và thị trấn Cát Bà trên đảo Cát Bà ngày nay, gồm 5 xã cũ là: Chân Châu (sau đổi thành Trân Châu), Đường Hào (sau đổi thành Hiền Hào), Xuân Áng (sau đổi thành Xuân Đám), Phù Long, Gia Luận.  Năm Minh Mạng thứ 17 (1836), cắt tổng Vân Hải của châu Vân Đồn cho lệ vào huyện Hoa Phong (tên cũ của huyện Cát Hải ngày nay), sau tổng Vân Hải lại bị cắt trả về châu Vân Đồn như cũ. Năm Thiệu Trị thứ I (1840), huyện Nghiêu Phong được thành lập, về cơ bản vẫn là huyện Hoa Phong cũ. Đời Tự Đức, huyện Nghiêu Phong lệ vào phủ Sơn Định, tỉnh Quảng Yên. Thời Pháp thuộc, đổi huyện Nghiêu Phong thành huyện Cát Hải, vẫn thuộc tỉnh Quảng Yên như cũ. Lúc này, huyện Cát Hải gồm 2 tổng Đôn Lương và Hà Sen, tổng Đôn Lương có 10 xã và tổng Hà Sen có 5 xã và phố Các Bà (sau là Đại lý, rồi thị xã Các Bà). Theo cuốn “ Từ điển bách khoa địa danh Hải Phòng” , các bản đồ hành chính thời Pháp (như bản đồ 1938) còn ghi Các Bà, sau có lẽ bị đọc chệch thành Cát Bà. Cũng theo sách này, thì xưa kia tên đảo là Các Bà. Tương truyền, quần đảo này vốn là nơi các bà, các mẹ và chị em phụ nữ lo chuẩn bị lương thảo giúp các chiến binh theo Thánh Gióng đánh đuổi giặc Ân trên vùng biển Hạ Long. Bởi thế, nên hòn đảo nơi các chiến binh đóng đại bản doanh tiền phương gọi là "Các Ông" và đảo hậu phương của các bà, các mẹ, các chị được mang danh là "Các Bà". Nhưng qua điều tra hồi cố các bậc cao niên, có lẽ cái tên Các Bà bắt nguồn từ sự tích lưu truyền rằng: Ngày xửa ngày xưa, không  rõ là vào thời kỳ nào, có xác hai nữ thần chết trẻ không biết từ đâu trôi dạt vào bờ đảo và lập tức bị mối xông thành mộ. Ngay đêm ấy, các thần nữ hiển linh báo mộng cho các vị chức sắc và dân chúng trên đảo biết về sự linh ứng của mình. Dân chúng bèn đóng góp tiền của lập miếu thờ hai thần nữ ngay bên hai nấm mộ thiêng này, gọi là miếu Các Bà. Các nữ thần đã nhiều lần hiển linh âm phù ngư dân trên đảo thoát khỏi các dịch bệnh, tai nạn trên biển và đánh đuổi cướp biển, giặc ngoại xâm. Để tri ân và muốn biểu dương uy linh của các nữ thần, nhân dân bèn lấy tên Các Bà đặt tên cho quần đảo. Hiện trên đảo còn nghè thờ Các Bà ở thị trấn Cát Bà và một số làng trên đảo. Sau năm 1945, huyện Cát Hải và thị xã Cát Bà thuộc khu Hồng Quảng, đến ngày 5-6-1956, cả hai đơn vị hành chính này được sáp nhập vào thành phố Hải Phòng. Ngày 22-7-1957, thành lập huyện Cát Bà, gồm thị xã Cát Bà cũ và 5 xã Trân Châu, Xuân Đám, Hiền Hào, Gia Luận và Việt Hải; thị xã Cát Bà đổi thành thị trấn Cát Bà thuộc huyện Cát Bà. Ngày 11-3-1977, huyện Cát Bà sáp nhập với huyện Cát Hải thành một đơn vị hành chính mới lấy tên là huyện Cát Hải. Ngày 13-3-1979, giải thể xã Cao Minh, huyện Cát Hải còn 11 xã. Ngày 23-4-1988, thành lập thị trấn Cát Bà, tách thôn Hùng Sơn của xã Trân Châu để sáp nhập vào thị trấn Cát Bà; giải thể xã Hoà Quang và xã Gia Lộc để thành lập thị trấn Cát Hải.

        Huyện đảo Cát Hải hiện có 10 xã: Trân Châu, Đồng Bài, Gia Luận, Hiền Hào, Hoàng Châu, Phù Long Nghĩa Lộ, Việt Hải, Văn Phong, Xuân Đám và 2 thị trấn: Cát Bà, Cát Hải. Ngoài cư dân bản địa, dân Cát Hải là người cộng đồng muôn phương, thạo nghề sông nước như Thái Bình, Nam Định, Thanh hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Tây Quảng Ninh. Bên cạnh cư dân gốc Việt là cơ bản, trước đây còn có người Hoa sinh sống (tập trung ở Cát Hải chiếm ½ dân số của đảo này). Con người từ mọi miền đất nước và tỉnh ven biển của Trung quốc đến định cư tại Cát Hải, Cát Bà vì nhiều lý do khác nhau, trong nhiều thời gian khác nhau. Sau “Sự kiện người Hoa” do bọn phản động gây ra năm 1978, hầu hết người Hoa rời đảo ra đi. Để phân bố lại lực lượng trên địa bàn, đáp ứng kịp thời nhu cầu sản xuất và chiến đấu, một bộ phận lớn cư dân Đồ Sơn, Tiên Lãng, An Lão được bổ sung cho huyện đảo Cát Hải. Nhân dân xã Cao Minh bên Cát Hải được bố trí chuyển cư hẳn sang Cát Bà. Do đặc điểm địa hình, nên việc phân bố dân cư của huyện không đồng đều, có nơi dân sống tập trung như thị trấn Cát Bà, thị trấn Cát Hải, xã Nghĩa Lộ; có nơi dân cư sống thưa thớt, biệt lập như Gia Luận, Việt Hải.

ĐỜI SỐNG KINH TẾ

      Các nhà sử học đã khẳng định rằng từ rất xa xưa cư dân Cát Hải đã quen với biển cả, vào thời kỳ văn hoá Hạ Long-Cái Bèo, con người sinh sống trên đảo Cát Bà đã đối mặt với biển. Theo các nhà khảo cổ học, kỹ nghệ về mảnh tước, chế tác công cụ đá, làm đồ gốm của người cổ Cát Bà dường như tương đồng với kỹ nghệ của người nguyên thuỷ ở Đông Nam Á hải đảo. Điều đó chứng tỏ vào thời cổ đại đã có sự đi lại giữa Cát Hải và Đông Nam Á hải đảo. Các hoạt động trao đổi, buôn bán giữa Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo thời trung và cận đại chủ yếu nhờ vào đường biển. Vùng biển Cát Hải từng có hải cảng lớn, trở thành nơi neo đậu và tụ họp của các nhà buôn Phương Đông và Phương Tây, vết tích còn lưu lại tại khu vực Thành Đồn Nhà Mạc và khu cảng thị Làng Cũ thuộc xã Xuân Đám ngày nay.  

     Tính đến năm 2008, huyện Cát Hải có 30.xxx.xxx người; mật độ xxx người/km2. Nói đến dân Cát Hải, sách “Đại Nam nhất thống chí” đã viết: Dân cư có “tục ưa mạnh, ít văn học, đất nhiều chua mặn, dân làm nghề đi đánh chài, đi buôn, mối lợi nhờ núi, biển”. Trước đó, từ thế kỷ XV, vua Lê Thánh Tông đã từng nhận xét về kinh tế vùng này: “cá muối nhiều như đất, dân đua nhau kiếm lợi, lúa má không có ruộng cấy nên đánh thuế cũng nhẹ”. Ở Cát Hải, lên rừng hay xuống biển, nơi đâu cũng bắt gặp những lâm, hải sản quý. Rừng Cát Hải có nhiều loại: rừng ngập mặn, rừng trên núi đá vôi, rừng trong thung áng với nhiều loại gỗ quý (trò đãi, kim giao, trai lì…) và hàng trăm loại cây dùng làm thuốc (chân chim, huyết giác, kim ngân…). Đặc biệt, trên đảo Cát Bà còn tồn tại khu rừng nguyên sinh với nhiều loại chim, thú quý, trong đó có voọc đầu trắng hay cong gọi là voọc Cát Bà, loại thú duy nhất chỉ có ở đây. Biển Cát Hải quanh năm có tới 900 loài cá, 500 loài thân mền. Các loại cá ngon có tiếng như: chim, thu, nhụ, đé, sủ, mú… Đảo Cát Bà nổi tiếng có sản phẩm tu hài, tôm hùm, mực ống, mực nang, ghẹ, trai ngọc… Đảo Cát Hải có nước mắm, tôm rảo. Riêng nước mắm Cát Hải nổi tiếng từ thời Lê-Trịnh, sánh ngang nước mắm Phan Thiết, Phú Quốc. Vùng biển Cát Bà giàu có về nguồn lợi cả ở tầng nổi lẫn tầng đáy, nơi có nhiều bãi cá tập trung, khá ổn định và có trữ lượng lớn, vậy nên, từ xa xưa, đánh cá là nghề chính của cư dân trên đảo Cát Hải và Cát Bà. Tuy vậy, phần lớn người Việt trên đảo Cát Hải vẫn chủ yếu duy trì phương thức đánh bắt, khai thác hải sản ven bờ, mà ít quan tâm đến việc vươn khơi đánh bắt xa bờ như người Hoa. Đa số cư dân trên đảo Cát Bà vẫn chủ yếu sống bằng nghề nông, nghề rừng, chăn tằm dệt vải. Nghề biển truyền thống ở Cát Hải chủ yếu là nghề câu, nghề kéo lưới rê (kéo giã), lưới vùi, lưới đáy, câu rê, lưới tôm 3 lớp, chắn đăng, bắt ốc, bắt ngao, bắt sò, đánh hà; nghề vó đèn, bóng cá sủ, bóng mực, câu cá mập và cá nhám… Mỗi phương pháp đánh bắt lại có đặc thù riêng như: lưới giã thì có giã một (một thuyền kéo) và giã hai (hai thuyền kéo), trước đây phương tiện kéo chủ yếu là thuyền buồm, hiện nay người ta dùng tàu có công suất máy 35-350 mã lực. Thuyền lưới giã (lưới rê) thường có trọng tải 6-7 tấn, ra khới đánh cá thường 7-8 ngày, có khi đến 15 ngày. Trên thuyền giã thường có 8-9 ngư dân, có khi 11-12 ngư dân. Nghề chắn đăng (chắn lưới), khi thuỷ triều lên, cá vào bờ ăn, người ta thả lưới bên ngoài, nước rút cá dồn vào lưới. Nghề câu cá, người làm nghề này thường dùng thuyền gỗ, thuyền nan, bè, mảng  để ra khơi, vào lộng câu cá. Cá câu mùa nào cũng được. Ngư dân Cát Hải rất giỏi việc tính toán giờ thuỷ triều lên xuống, cá vào, ra, đói, no để chọn giờ thả câu cho đạt hiệu quả…  Trước đây, đánh cá là một nghề chính của huyện. Sau ngày Cát Bà giải phóng, nghề cá bị đình đốn. Thực hiện lời dậy của Bác Hồ ngày về thăm đảo (31-3-1959): phải xây dựng Cát Hải thành trung tâm nghề cá của Hải Phòng, Đảng bộ và nhân dân Cát Hải đã ra sức phấn đấu từng bước đưa nghề cá ngày một phát triển. Muối là ngành sản xuất quan trọng thứ hai của Cát Hải. Thời kỳ phát triển thịnh đạt, hầu hết diện tích đất canh tác trên đảo Cát Hải được cải tạo, xây dựng thành những cánh đồng muối, như ở Văn Chấn, Gia Lộc, Nghĩa Lộ, Phù Long... Ngành sản xuất muối từng thu hút tới 1/4 lao động và giải quyết đời sống cho gần một nửa số dân trong huyện. Làm muối là một nghề thủ công mang nặng tính thời vụ, cực nhọc, phải giành giật với thiên nhiên từng ngày nắng để sản xuất. Bên cạnh nghề muối, Cát Hải còn có một số nghề thủ công gắn liền với biển cả và núi rừng, với nghề biển như: nghề làm nước mắm, nghề đan lưới, nghề đóng và đan thuyền, vận tải biển, nghề sơn tràng…

    Nước mắm Cát Hải nổi tiếng tới mức dân gian còn lưu truyền câu: “ dưa La, húng Láng, nem Báng, tương Bẩn, nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét”. Nước mắm Vạn Vân tức là nước mắm Cát Hải. Cuốn Staliques Commerciales của Vidy xuất bản năm 1936 viết: “Xí nghiệp Vạn Vân là cơ sở sản xuất nước mắm lớn nhất, thành lập năm 1916 ở giữa hai làng Gia Lộc và Văn Chấn là nơi làm muối. Xưởng có 10.000 chum loại 400kg đựng chượp để từ 7 đến 8 năm mới đem nấu. Cá quẩn, một loại các xác định chỉ đánh được vào tháng 5 và 6 cho sản phẩm thượng hảo hạng, cá nhâm cho sản phẩm loại nhì, cá ruội cho ra loại ba”. Chẳng hiểu do sách của Vidy không nói hay người dịch cắt đầu cắt đuôi nên không rõ Vạn Vân là cơ sở sản xuất nước mắm lớn nhất Bắc-Trung-Nam hay nhất Bắc Kỳ hoặc Cát Hải. Và nữa, do người Pháp nhầm hay tại ông chủ Vạn Vân nói phóng lên, bởi theo kinh nghiệm làm mắn cổ truyền của người Cát Hải, chưa thấy ai để trượp đến 7, 8 năm mới đem nấu. Vì không cần để lâu như thế. Thông thường trượp chỉ để năm, hay hơn năm đã đem nấu. Người Cát Hải biết kỹ thuật nấu nước mắm từ lâu, nhưng chủ yếu để dùng trong gia đình, làm quà biếu, có bán cũng chẳng được bao nhiêu và làm ra không nhiều. Mãi đến đầu thế kỷ XX, ở thôn Hoà Hy, xã Hoà Quang (nay thuộc thị trấn Cát Hải), có ông Đoàn Đức Ban, thường gọi là Lý Ban, không rõ là lý thật hay lý mua, là người đầu tiên nghĩ đến việc nấu nước mắm với sản lượng lớn đưa lên bán trên vùng Kinh Bắc. Tục truyền, thời trẻ ông Đoàn Đức Ban thường dùng thuyền chở cá và muối lên chợ bến làng chài Vạn Vân (Bắc Ninh) bán và trao đổi hàng hoá với cư dân vùng Kinh Bắc. Thấy người Bắc Ninh nấu nước mắm bằng cá nước ngọt nhưng sản phẩm không có vị đậm và hương thơm như nước mắm cá quẩn ở quê nhà, ông Đoàn Đức Ban đã nảy sinh ý tưởng đưa nghề làm mắm Cát Hải thành một ngành sản xuất hàng hoá. Từ đó, ông lấy bến Vạn Vân làm điểm tập kết và cung cấp nước mắm Cát Hải cho khắp vùng Kinh Bắc. Người mua chẳng biết ông chủ nước mắm là ai, đem từ đâu đến, cứ gọi là nước mắm Vạn Vân. Rồi chính ông Đoàn Đức Ban cũng đặt tên cho sản phẩm của mình là nước mắm Vạn Vân. Thấy ông Đoàn Đức Ban giàu lên nhờ làm mắm, người Cát Hải lúc bấy giờ bèn đua nhau học theo, chẳng bao lâu đã có hàng chục hộ  mở lò nấu nước mắm với nhiều tên gọi khác nhau như Vạn Lợi, Vạn An, Ông Sao, Vạn Nguyên… Tuy nhiên, chỉ có nhãn hiệu “Nước mắm Vạn Vân-con cá vàng” của hãng Vạn Vân là được in sâu đậm nhất vào trí nhớ và thói quen ẩm thực của người tiêu dùng đất Bắc.

    Cát Hải cũng có một số vùng sản xuất nông nghiệp. Các xã Xuân Đám, Hiền Hào, Việt Hải chủ yếu trồng lúa và rau màu và các xã Trân Châu, Gia Luận phát triển kinh tế vườn đồi, trồng cây ăn quả, nổi tiếng nhất là cây đặc sản cam Gia Luận và chè xanh Trân Châu. Tuy là bộ phận nhỏ trong cơ cấu kinh tế của huyện nhưng nông nghiệp đã tự giải quyết được một phần lương thực quan trọng của huyện. Dân cư trên đảo Cát Bà còn có nghề rừng                  (nghề sơn tràng), nghề đóng mới và sửa chữa tàu thuyền phục vụ nghề cá. Trước đây, bà con chỉ nghĩ đến việc khai thác, chưa quan tâm đến việc bảo vệ, trồng và tu bổ rừng. Nghề khai thác gỗ không chỉ để dùng tại chỗ, mà còn được đưa vào đất liền để bán, gỗ tốt dùng làm nhà, nguyên liệu cho nghề mộc, còn gỗ nhỏ, xấu tính thành khối bán làm củi đun nấu, nung vôi, đốt gạch. Xưa kia, trồng dâu, nuôi tằm, quay tơ dệt lụa khá phát triển ở Trân Châu, Xuân Đám, Gia Luận (Cát Bà). Trong ký sự “Bốn năm trên đảo Cát Bà” của nữ sĩ Vân Đài (đăng trên tạp chí Tri tân, số 157, tháng 9-1944) mô tả: “Trèo qua nhiều ngọn đồi gập nghềnh, len vào những con đường độc đạo. Làng Trân Châu, Xuân Đám là một cõi riêng, gần như một thế giới khác. Người ở đây vẫn sống biệt lập và vẫn giữ được căn bản người Việt Nam. Đến đây, ta có một cảm tưởng như sống trong một xã hội cũ, vì người và cảnh vẫn có một vẻ mộc mạc thời xưa. Mười năm về trước, trong lúc các nơi đã bỏ nghề nuôi tằm, dệt lụa, ở đây vẫn có những bãi dâu, những khung cửi, những cô gái mặc váy đũi, yếm cổ xẻ và những ông già đầu bạc chống gậy trúc, mặc áo lụa mộc, chiều chiều đi ngắm cảnh dưới tà dương”...

     Nghề vận tải biển ở Cát Hải vốn rất phát triển. Trước đây, người ta chủ yếu dùng thuyền chèo, thuyền buồm vào Đồ Sơn, Kiến Thuỵ, Tiên Lãng, Thuỷ Nguyên, Hải Phòng, Hạ Long, xa hơn thì tới Phố Hiến, Thăng Long, Bắc Ninh, Thanh Hoá, Nghệ An, thậm chí còn vượt sang tận Quảng Đông, Hải Nam (Trung Quốc)… để bán cá tôm, hải sản, mắm, muối; bán gỗ, củi, nông- lâm-thổ sản và mua về thóc gạo, cùng nhiều hàng tiêu dùng thiết yếu khác. Những cuộc giao lưu buôn bán xa, gần hầu như là trao đổi hai chiều.

    Lao động cần cù sáng tạo là truyền thống lâu đời và cũng là một đặc điểm nổi bật của nhân dân Cát Hải. Biển cả mênh mông, nhưng người Cát Hải hiểu biết biển chẳng khác nào người nông dân hiểu cánh đồng, thửa ruộng của mình. Ngư dân Cát Hải chẳng những thông thạo cách đánh bắt hải sản mà còn hiểu biết những diễn biến của sóng nước và gió biển. Trước đây, dân Cát Hải không nuôi cá vì ngư trường sẵn, tiêu thụ ít. Ngày nay, nghề nuôi trồng hải sản được quan tâm. Với nghề chính là đánh cá, và chế biến thuỷ sản, nấu nước mắm, làm muối, săn bắt chim và thú, khai thác lâm sản, tự thân nó đòi hỏi ngưòi Cát Hải phải luôn mở rộng giao lưu trao đổi với các thị trường khác thì mới đảm bảo đời sống và tái sản xuất.

HPH

[ Trở lại ]
  Ý kiến bạn đọc
    Ý kiến bạn đọc
 
Họ và tên:
Email:
Tiêu đề:
OFF Auto Telex VNI VIQR
 TIN NÓNG
Phân hội Kiều học huyện Thủy Nguyên tổng kết hoạt động năm 2017
Khai mạc giải bóng đá Kiến trúc sư trẻ Hải Phòng 2017
Hội thảo “Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trong bối cảnh điều kiện cách mạng 4.0”
NGHĨA TÌNH ĐẤT CẢNG
Nhà Đất Quí 4 năm 2017
Sinh hoạt thường kỳ CLB Thơ Việt Tiệp tháng 12/2017
Hội KTS Hải Phòng với công tác cuối năm 2017 và đầu năm 2018
Hội thảo kết nối đầu tư kinh doanh Việt- Hàn 2017
KẾT NỐI MÙA ĐÔNG
Giao lưu văn nghệ “Những bông hoa phấn trắng”
Xem toàn bộ    
 
CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN THIẾT KẾ XÂY DỰNG ĐẤT VIỆT
Địa chỉ: 246 - Đã Nẵng - Hải Phòng  *  Tel/Fax : 031. 374 6088  *  E-mail: datviet@datvietjsc.net.vn  -  minhtri@datvietjsc.net.vn
Design by in nhanh văn phòng phẩm Vietranet JSC