TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ ĐẤT VIỆT JSC    Công ty cổ phần tư vấn thiết kế xây dựng Đất Việt - Địa chỉ: 246 Đà Nẵng - Hải Phòng Tel/Fax : 031.3746088 E-mail: datviet@datvietjsc.net.vn minhtri@datvietjsc.net.vn
  Trang chủ
  Giới thiệu
  Tin tức
  Văn nghệ
  Kiến trúc
  Hội , câu lạc bộ
  Quảng cáo
  Thư viện
 
  Liên hệ
CQ Đảng, Nhà nước
Thông tin đại chúng
Các trang web khác
  Thăm dò dư luận
Bạn hay quan tâm đến mục nào trên website ?
Giới thiệu
Tin tức mới
Văn nghệ
Kiến trúc
Hội, câu lạc bộ
  
TỶ GIÁ NGOẠI TỆ
  Số người truy cập
Số người online: 16
Tổng số truy cập: 9661319
 
 

ao nit nguc | áo ngực | áo nịt ngực đồ lót | do lot | bikinis quan ao boi | quần áo bơi | bộ đồ bơi do ngu | đồ ngủ | bộ đồ ngủ | quần áo ngủ dam cong so | đầm công sở dam du tiec | đầm dự tiệc dam thu dong | đầm thu đông chan vay | chân váy ao so mi nu | áo sơ mi nữ ao cuoi, vay cuoi | áo cưới, váy cưới vay lien | váy liền ngoisao | ngoi sao | ngôi sao ngoi sao may man | ngôi sao may mắn ngoisaomayman mua ban | mua bán rao vat | rao vặt dang tin rao vat | đăng tin rao vặt mua ban truc tuyen | mua bán trực tuyến me va be | baby | mẹ và bé me va be | mẹ và bé thoi trang tre em | thời trang trẻ em | quần áo trẻ em thoi trang tre em | thời trang bà bầu thoi trang cong so | thời trang công sở

CLB Hải Phòng Học
Đất và người Cát Hải (Phần 3)

Người dân huyện đảo Cát Hải rất dũng cảm kiên cường không chịu khuất phục trước bất kẻ thù xâm lược nào và cùng rất hiền lành, chất phác, trọng nghĩa mến tài; có lòng yêu quê hương đất nước nồng nàn, tha thiết...

 
Đất và người Cát Hải (Phần 3)

VĂN HOÁ-TÍN NGƯỠNG

     Trong diễn trình lịch sử khai mở vùng hải đảo này, nhờ sống trên biển, chú trọng khai thác biển, nên người Cát Hải có thế ứng xử với biển, vừa có nét riêng, nhưng cũng vừa có nét tương đồng với cư dân vùng biển Đông Bắc Tổ quốc. Ở nơi đầu sóng, ngọn gió này, với sức sống kỳ diệu, sáng tạo, nhân dân Cát Hải đã tạo dựng cho mình nhiều hoạt động văn hoá độc đáo, phong phú và đa dạng như: hội đua thuyền truyền thống ở các làng Trân Châu, Phù Long, Hoà Hy, hội kéo ngựa gỗ ở Hoàng Châu, hội mùa xuân ở Hiền Hào...Trước kia, với nghề biển, cả đời sống trong may rủi, nên người Cát Hải thường tin vào sức mạnh của thần linh. Bên cạnh việc tôn thờ các vị nhân thần là người có công với dân với nước, hoặc khai canh, khai cơ làng xóm, nhiều làng xã ở Cát Hải cùng thờ Thánh Mẫu Liễu Hạnh và Thiền sư Không Lộ (nhân dân thường gọi là đức Khổng Lồ) là những vị thần linh bảo trợ tinh thần cho ngư dân nhiều miền sông nước. Có làng thờ hai, ba vị thần, thậm chí năm, sáu vị thần. Hầu như không thấy làng xã nào ở Cát Hải chỉ thờ cúng một vị thần. Trải qua bao biến thiên, tục xưa lệ cũ bị thất truyền, nhiều khi ngay cả những người thay mặt cho dân làng chuyên lo việc thờ cúng cũng chẳng biết sự tích các vị thần dân làng mình thờ là ai.

       Miếu và nghè Đôn Lương thờ 5 vị thành hoàng, trong đó có 3 vị dwong thần, 2 vị âm thần đều không có sự tích. Trước năm 1938, xã còn giữ được 7 sắc phong thuộc các đời như: Sắc phong Cảnh Thịnh 44 (1738) cho một vị là Đông Tuấn Anh Nghị Cương Nghị đại vương và một vị là Tây Dực uy Dũng Cảm Ứng đại vương; sắc phong đời Tự Đức thứ 6 (1853) cho một vị là Đông Hải Tôn Thần; sắc phong đời Tự Đức thứ 36 (1882) cho một vị là Quyết Dũng Thượng Đẳng Thần; sắc phong đời Đồng Khánh thứ 2 (1887) cho Trung Hưng Dực Bảo thượng đẳng thần; sắc phong đời Thành Thái thứ nhất (1889) cho một vị là Đông Trấn Linh Phù chi thần; sắc phong đời Duy Tân thứ 3 (1909) hợp phong ba vị một đạo và cho 2 vị âm thần gồm Liễu Hạnh Hoà Diệu công chúa và Bản Thổ Quỳnh Hoa công chúa; sắc phong đời Khải Định thứ 2 (1917) cho Liễu Hạnh là Vy Trang thượng đẳng thần. Các vị thần trên đều được thờ bằng tượng; riêng có một vị thờ bằng mộc bài. Hàng năm xã Đôn Lương thường tế lễ vào ngày kị 11-6 âm lịch (không rõ ngày hoá của vị thần nào).

       Theo bản khai thần tích năm 1938 của hương lý xã Đồng Bài cho biết xã gồm 3 thôn: Chấn, Đoài và Trung (còn huyện Cát Hải được ghi là bang). Đình và miếu cả 3 thôn đều thờ thành hoàng Cao Sơn Quý Minh. Trong lịch sử, do khu vực này thường gặp loạn lạc, bão tố, dân làng không lưu giữ được thần tích, ngọc phả của các thần, nên không rõ sự tích; nhưng chắc là anh em kết nghĩa của thần núi Tản Viên. Trước năm 1938, xã Đồng Bài chỉ còn lưu giữ được 5 đạo sắc phong thuộc các đời: Tự Đức 13 (1861) lưu giữ ở thôn Chấn; Đồng Khánh thứ 2 (1887) lưu giữ ở thôn Trung; Thành Thái thứ nhất (1889) lưu giữ ở thôn Đoài; Duy Tân thứ 3 (1909) lưu giữ  thôn Chấn và Trung. Đặc biệt, hai thôn Chấn và Trung có lệ giao hiếu, mỗi thôn thờ bài vị, sắc phong các vị thần thành hoàng một lần ở đình làng mình. Thần Cao Sơn Quý Minh được thờ bằng bài vị. Ngày tế hàng năm: 10-6 là lễ đại kỳ phúc, mồng 4-1là lễ tiểu kỳ phúc. Ngoài Cao Sơn Quý Minh, hai thôn Chấn và Trung còn thờ hai vị tiên công ở miếu: thôn Chấn thờ vị thần tên huý là Hoàng Độ, thôn Trung thờ vị thần tên huý là Hoàng Phúc. Sụ tích 2 vị thần này đã bị thất lạc, không có sắc phong, tương truyền là những người có công chiêu dân lập ấp, dậy nghề nghiệp cho dân; cả hai được thờ bằng bài vị, hàng năm 2 thôn tế cùng ngày 23-12.

      Đình và miếu Hoà Hy (tức Hoà Quang sau này), thờ 4 vị thành hoàng: Liễu Hạnh công chúa (thường gọi là đức Thánh Mẫu); Càn Nương - tên hiệu là Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị tôn thần (thường gọi là Đức Thánh Cờn (Càn)); Không Lộ và Giác Hải tôn thần. Đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh được thờ bằng tượng, còn các vị khác được thờ bằng bài vị để trong ngai. Trước năm 1938, xã Hoà Hy còn giữ được một số đạo sắc phong chưa rõ nội dung. Ngày tế hàng năm vào hai dịp: đại kỳ phúc (tức lệ vào đám) từ ngày 10 đến ngày 16-6 âm lịch, trong lễ có rước bài vị, thần sắc ở hai miếu về đình để hợp tế, đến ngày rã đám lại đưa về miếu; tiểu kỳ phúc vào đúng những ngày tết Nguyên đán. Riêng đức Thánh Mẫu Liễu Hạnh được cúng tế vào ngày 3-3 âm lịch. Theo cổ lệ, ngoài những ngày sự lệ trên, dân làng còn có tục làm lễ sóc vào ngày mồng một hàng tháng, lễ chạp thần ở đình, miếu vào các ngày  trong tháng 8 và ngày 1-12, 23-12, gọi là lễ thường tân.

     Đình và miếu Lục Độ thờ 5 vị thành hoàng, gồm: Bản Cảnh thành hoàng, không rõ sự tích, trước năm 1938, dân làng còn giữ được 1 sắc phong đời Thành Thái năm thứ nhất (1889); Giác Hải, tên huý là Viên Y, sinh ngày 15-10, năm Giáp Tý, người huyện Giao Thuỷ, phủ Hải Thanh (nay là huyện Xuân Thuỷ, tỉnh Nam Định); Không Lộ, họ Nguyễn, tên huý Chí Thành, sinh ngày 14-8 năm Bính Thìn, người xã Đàm Xá, huyện Gia Viễn (nay thuộc tỉnh Ninh Bình). Theo bản khai thần tích năm 1938, Giác Hải và Không Lộ quen biết nhau từ nhỏ, cùng làm nghề đánh cá. Một hôm hai người nói với nhau rằng: “Đời người khác nào như bông hoa sớm nở tối tàn, cảnh phù sinh nào được là bao? Vả lại sự vui thú giang hồ sao bằng dạo chơi cảnh Phật, cho tâm thần được cao siêu”. Sau đó hai người cắt tóc đi tu, sang Tây Trúc học đạo. Trở về nước, Không Lộ dựng Am Viên ở trang Hành Cung (nay thuộc xã Hành Thiện, huyện Xuân Thuỷ, tỉnh Nam Định) và trụ trì ở đó. Tục truyền, Không Lộ mặc áo cà sa mang một chiếc túi nhỏ và cây tích trượng đi sang Trung Quốc tìm đồng. Trải qua bao gian nguy dọc đường biển, ông đã đem được 10 kho đồng về tới quê hương để đúc nên “Tứ đại khí” gồm:  tháp chùa Báo Thiên (Hà Nội), chuông chuông chùa Diên Hựu (tức chùa Một Cột-Hà Nội), tượng Phật chùa Quỳnh Lâm (Quảng Ninh), vạc chùa Phổ Minh (Nam Định). Trước năm 1938, dân làng Lục Độ còn giữ được 3 đạo sắc phong chung cho Không Lộ và Giác Hải thuộc các đời: Tự Đức thứ 3 (1850) và 33 (1880), Đồng Khánh 2 (1887). Không Lộ và Giác Hải đều là đại thiền sư thời Lý (1010-1225), không rõ tại sao ở Lục Độ lại thờ làm thành hoàng ở đình; Liễu Hạnh công chúa và Tứ Vị Thánh Nương. Cũng theo bản khai thần tích trên, Tứ Vị Thánh Nương là 4 người phụ nữ: bà Tống Hậu, mẹ vua Tống Đế Bính (bà là người họ Dương nên dân gian thường gọi là Dương Thái Hậu), cùng hai người con gái của bà và một người cung nữ, sống vào cuối đời Nam Tống. Năm thứ 2 niên hiệu Tường Hưng nhà Tống (1279), quân Tống bị quân Mông Cổ đánh bại, Lục Tú Phu cõng vua Tống là Đế Bính nhảy xuống biển tự vẫn. Mẹ con bà Thái Hậu cùng người cung nữ cũng nhảy xuống biển tự vẫn theo, gặp cơn giông tố xác 4 người phụ nữ này trôi sang đất Việt, đến Cửa Càn (Cờn) thuộc Nghệ An ngày nay. Tương truyền, khi chết rồi, sắc mặt các vị vẫn như còn sống, được nhân dân địa phương vớt lên khâm liệm, mai táng. Khi vua Trần Anh Tông đi đánh giặc Chiêm Thành đã đóng quân ở của bể này, đến đêm mộng thấy một người con gái hiện về nói rằng: “Tôi là gái họ Triệu, vì sóng gió đưa tôi đến đây. Thượng đế rủ lòng thương cho tôi làm hải thần cửa bể này, nay nghe bệ hạ thân đi đánh giặc Chiêm Thành, vậy tôi xin cùng giúp sức…”. Vua Anh Tông thắng giặc Chiêm Thành trở về, sai quan đem lễ đến tế, sắc phong là Tứ Vị Thánh Nương và gia phong làm phúc thần, truyền lệnh cho các nơi ở miền duyên hải phải làm miếu thờ. Trước năm 1938, dân làng còn giữ được 3 đạo sắc phong cho Tứ Vị Thánh Nương thuộc các đời: Tự Đức thứ 3 (1850) và 33 (1880), Đồng Khánh thứ 2 (1887). Theo cổ lệ, ngày tế lễ hàng năm của dân làng được tổ chức như sau: lễ kỳ phúc diễn ra từ ngày mồng 1 đến hết ngày mồng 4-1, hội làng diễn ra từ ngày 12 đến hết ngày 15 tháng 6, lễ trung nguyên 15-7, lễ thường tân 15-8; riêng ngày 3-3 là ngày lễ Thánh Mẫu Liễu Hạnh.

     Theo bản khai thần tích ngày 13-4-1938 của hương lý làng Lương Năng (tên cũ là Lương Lãnh) cho biết: chùa, đình và miếu thờ 3 vị thành hoàng, gồm hai vị dương thần và một vị âm thần, đều không rõ tên gọi, sự tích. Hai vị dương thần được thờ bằng bài vị, có áo, mũ, đai; trước năm 1938, làng còn giữ được 3 đạo sắc phong thờ ở đình, một sắc thờ ở miếu và một sắc hợp phong. Vị âm thần được thờ ở chùa. Ngày tế lễ hàng năm: tế hai vị dương thần từ ngày 11 đến ngày 14-6, tế vị âm thần vào ngày 3-3. Làng có tục hội họp luận bàn sự làm ăn vào ngày 1-6.

     Đình và miếu Hoàng Châu thờ 3 vị thành hoàng: Liễu Hạnh công chúa được thờ bằng tượng sơn son thếp vàng ở đình (trước năm 1938, còn giư được một số sắc phong thời Nguyễn) và hai vị dương thần, không rõ tên hiệu và sự tích, nhân dân địa phương thường gọi là Đức Vua Ông, hoặc Đức Thành hoàng, được thờ ở miếu, bằng long ngai, không bài vị. Bản khai thần tích năm 1938 cung cấp: xưa kia, làng Hoàng Châu có ngọc phả ghi chép về hai vị dương thần này, sau vì hoả hoạn nên thất lạc. Ngày tế lễ hàng năm gồm: 3-3 là ngày tế Thánh Mẫu Liễu Hạnh; các ngày 1-6, 1-12 tổ chức chạp thần đối với cả 3 vị. Làng Hoàng Châu còn bảo lưu được tấm bia đá “ Tư văn ký”, tạo năm Tự Đức 15 (1862), bài minh văn có đoạn ghi: “Phủ Đông Hải, huyện Hoa Phong, tổng An Khoái (sau là tổng Đôn Lương), xã Hoàng Châu có hội tư văn, hằng năm vào xuân thu có tế Khổng tử, nên tạc một tấm bia đá ghi danh sách các nhà hậu Nho kể từ đời Tiền Lê đến đời Minh Mệnh thứ mười lăm để ở văn từ hàng xã, đến khi tế lễ thì các người có tên trong bia đó được tế phối hưởng”. Trong bia đá ghi tên 4 vị giám sinh Quốc tử giám thời Tiền Lê (tức sau đời Lê Thái Tổ) là Bùi Quốc Hoa, Bùi Thế Trạch, Nguyễn Khắc Ninh, Vũ Tiến Tước và hơn 100 người là sinh đồ từ thời Tiền Lê về sau.

     Làng Phong Niên (tên cũ là An Phong), xưa kia gồm 3 thôn, đình các thôn đều cùng thờ 4 vị thành hoàng là: Càn Hải, Đông Hải tôn thần (tức Đoàn Thượng-một danh tướng thời nhà Lý, khi triều lý sụp đổ, ông đã từng xây dựng hệ thống đồn luỹ ở vùng ven biển Hải Phòng ngày nay để chống lại quân đội nhà Trần do Thái sư Trần Thủ Độ chỉ huy), Đông Đặng Phù Tang chi thần, không rõ sự tích và Liễu Hạnh công chúa. Xưa kia, làng có thần phả của các thần, sau bị hoả hoạn nên thất lạc. Trước năm 1938, làng Phong Niên còn giữ được một số sắc phong thuộc các đời Thành Thái, Duy Tân, Đồng Khánh. Ngày tế lễ hàng năm: 3-3 tế Thánh chúa Liễu Hạnh, hội làng diễn ra từ ngày 11 đến 13-6, 1-12 là ngày khánh hạ.

    Theo bản thần tích khai ngày 15-4-1938 của hương lý xã Văn Chấn (tên cũ Văn Minh), đình và miếu Văn Chấn (dựng thế kỷ 16) thờ 6 vị thành hoàng, đều là nhân thần, không rõ sự tích vì thần phả thất lạc. Đó là: Bản Cảnh, Cao Lang, Hoàng Hoá, Nga My Nương, Thiên Nhượng, Liễn Đầu. Các vị thần trên đều được thờ bằng kiệu có mũ. Trước 1938, xã còn giữ được ít nhất 6 đạo sắc phong thuộc các đời : Duy Tân 3 (1911), Tự Đức 6 (1853) và 33 (1880), Đồng Khánh 2 (1887), Thành Thái 1 (1889), Khải Định 2 (1917). Ngày tế lễ hàng năm 10-6 âm lịch; “lúc đọc chúc đến tên húy của các ngài thì phải điểm trống không ai được nghe”.

    Đình Nghĩa Lộ thờ thành hoàng Đông Hải - hiệu là Đông Hải Linh Thắng, Hùng Sơn Bản Lộ Bảo Vệ Chính Trực, không rõ sự tích. Thần Đông Hải được thờ bằng ngai, bài vị. Trước năm 1938, xã Nghĩa Lộ còn giữ được 5 đạo sắc phong thuộc các đời: Tự Đức 3 (1850) và 30 (1877), Đồng Khánh 2 (1887), Duy Tân 3 (1909). Ngày tế lễ hàng năm: 12- 6 âm lịch.

     Đình và nghè Phù Long thờ 5 vị thành hoàng đều chưa rõ sự tích: Bản Lộ Đô Thống Đông Hải thần; Đệ Nhất Chúa Tiên Hồng Nữ Thuỷ thiên thần; Lý Bạch Chỉ Linh Thánh đại vương; Nam Hải tôn thần; Thái Uý. Ở làng Phù Long xưa, 5 vị thần trên đều được thờ bằng bài vị ở nghè, chỉ khi vào đám mới được rước về đình. Trong trường tồn lịch sử, xã Phù Long có sắc phong thuộc một số đời nhưng do hoả hoạn nên bị thất lạc. Ngày tế lễ hàng năm: từ mồng 3 đến mồng 8 tháng 4 và từ 12 đến 15 tháng 6 âm lịch.

     Đình và miếu Hiền Hào thờ 2 vị thành hoàng là Đào Hoa công chúa và Khổng Lồ (Khổng Minh Không). Cả 2 vị đều chưa rõ sự tích, được thờ bằng tượng; vị Đào Hoa được thờ ở miếu, vị Khổng Lồ thờ ở đình. Bản khai năm 1938 cho biết, trước kia, xã Hiền Hào còn giữ được các sắc phong từ đời Thiệu Trị đến Duy Tân, nhưng do hoả hoạn nên thất lạc. Ngày tế lễ hàng năm: mồng 5 tháng 1; 14-6 âm lịch; ngoài ra còn tế theo thời tiết vào các ngày 3-1, 15-6 âm lịch.

     Đình, miếu và nghè Gia Luận thờ 4 vị thành hoàng: Đương cảnh thành hoàng Chính Thống đại vương, không rõ sự tích, được thờ ở đình; Đại Càn Quốc Gia Nam Hải Tứ Vị thượng đẳng thần, theo sự tích là người Tống bên Trung Quốc, sau chạy sang Nam Việt, âm phù vua Việt đánh giặc Chiêm Thành nên được thờ ở các cửa biển; Đề Điếm Đoàn Nghĩa thượng đẳng thần, được thờ ở miếu, theo sự tích có công chiêu dân lập ấp; Quản Trị Đề Dũng đại vương Dực Bảo Trung Hưng Tôn thượng đẳng thần, không rõ sự tích, được thờ ở miếu. Cả 4 vị được thờ bằng tượng. Trước năm 1938, xã Gia Luận còn giữ được một số đạo sắc phong, chưa rõ nội dung, thuộc các đời Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, Đồng Khánh, Thành Thái. Ngày tế lễ hàng năm: mồng 5 tháng 1 và 14-6 âm lịch

     Tôn giáo thịnh hành ở Cát Bà chủ yếu là đạo Phật, làng xã nào ở Cát Hải cũng có chùa thờ Phật. Thờ Phật là tín ngưỡng tự do, tự nguyện của nhân dân. Trong quá trình đẩu tranh xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước, các tín đồ Phật tử Cát Hải đã tích cực tham gia, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp chung đó. Với bàn tay khéo léo, óc thẩm mỹ cao, nhân dân Cát Hải đã tạo một công trình kiến trúc- nghệ thuật nổi tiếng như: toà cổ miếu Văn Chấn mang phong cách kiến trúc-nghệ thuật thời Hậu Lê (thế kỷ 15); Tấm bia đá “Tân tạo thạch bi” ở chùa Gia Lộc dựng năm Cảnh Thịnh tứ niên (1797) là một tác phẩm điêu khắc nghệ thuật có giá trị, góp phần làm rạng danh nền mỹ thuật nước nhà; đình Đôn Lương được xây dựng từ thời Lê Cảnh Trị (1663-1671)- một công trình kiến trúc-nghệ thuật sáng giá. Đặc biệt, cầu đá Gia Lộc và khu thành đồn nhà Mạc ở Xuân Đám đều là những công trình thể hiện tri thức sâu rộng của người Cát Hải về mọi mặt, nhất là về khả năng tính toán chính xác, óc thẩm mỹ và nghệ thuật điêu khắc, kiến trúc.

     Đời sống vật chất đa dạng và cuộc sống xã hội phong phú đã làm nảy nở nền nghệ thuật và sinh hoạt văn hoá dân gian đặc sắc. Hát hò trong lao động, hát đối đáp trong các dịp hội hè là hình thức sinh hoạt không thể thiếu của người Cát Hải. Hàng năm, vào những ngày đầu xuân, nhân dân các xã Gia Lộc, Cao Minh, Phù Long, Hoàng Châu…thường tổ chức hội đua thuyền và đánh cá tế thần truyền thống. Sự tích về miếu thờ Các Bà, về Hòn Guốc, bãi Phù Long, về cây kim giao…từ bao đời nay luôn thu hút sự quan tâm của các nhà nghiên cứu. Làng Hoàng Châu là quê hương của tục đua ngựa gỗ trên bãi cát. Xã Trân Châu có kho tàng văn hoá dân gian truyền miệng hết sức phong phú…Hiếu học là truyền thống quý báu và cũng là một đức tính tốt đẹp của nhân dân Cát Hải. Bia đình Hoàng Châu còn lưu danh tên tuổi những người đặt nền móng cho truyền thống hiếu học của quê hương.

TRUYỀN THỐNG CHỐNG NGOẠI XÂM

        Truyền thống chống ngoại xâm là biểu hiện cao đẹp của ý thức độc lập dân tộc mà nhân dân Cát Hải hàng ngàn năm nay đã hun đúc, rèn luyện nên. Bất kỳ kẻ thù ngoại xâm nào khi xâm phạm vùng biển đông bắc Tổ quốc, vùng biển Cát Hải cũng đều bị nhân dân địa phương nhất tề đoàn kết đứng lên tổ chức chiến đấu, kháng chiến đánh đuổi, góp phần bảo vệ nền độc lập dân tộc và sự toàn vẹn lãnh thổ của sơn hà xã tắc.

       Cách đây hơn 4 nghìn năm, các vua Hùng đã thống nhất 15 bộ lạc sống ở trung du, đồng bằng và vùng ven biển Bắc Bộ, vùng Bắc Trung Bộ ngày nay thành lập nước Văn Lang. Ngày ấy, nhờ đã có người Việt sinh sống ở các đảo xa trên quần đảo Cát Bà và Vịnh Hạ Long, Bạch Long Vỹ mà nước Văn Lang của các vua Hùng đã khẳng định chủ quyền quốc gia đến vịnh Bắc Bộ. Nước Văn Lang ở vào vị trí là cầu nối giữa vùng Đông Nam Á lục địa và Đông Nam Á hải đảo, nằm ở ngã tư của con đường thuỷ giao lưu quốc tế quan trọng: từ Bắc xuống Nam; nối Thái Bình Dương với Ấn Độ Dương; nối liền Đông Á với Tây Âu và Châu Phi…Do vị trí địa lý của mình, ngay từ buổi đầu dựng nước, người Cát Hải thời Hùng Vương đã phải đương đầu với nhiều kẻ thù xâm lược mang các tên truyền thuyết như giặc “Man”, giặc “Mũi đỏ”, giặc “Ân”, giặc “Bể”…Hoà chung với tinh thần quật cường của dân tộc, những cư dân thời Hùng Vương thứ 6 (Hùng Duệ Vương) sinh sống trên đất Cát Hải đã đem hết tinh thần và nghị lực cùng cả dân tộc cùng Phù Đổng Thiên Vương đánh đuổi giặc Ân. Ngày nay truyền thuyết, thần tích, ngọc phả còn lưu danh những con  người từng cưỡi thuyền ra khơi đuổi đánh giặc Ân như: tráng sĩ Hùng Sơn ở Nghĩa Lộ; sự tích về các vị thần Cao Sơn, Quý Minh ở Đồng Bài…đã phần nào nói lên sự thật đó. Thần phả xã Nghĩa Lộ ghi: Đời Hùng Vương thứ 6, giặc Ân vào đánh phá nước ta. Vua Hùng phái sứ giả đến các nơi trong nước để cầu người hiền tại ra giúp nước. Ở vùng biển- đảo nay thuộc xã Nghĩa Lộ, huyện Cát Hải có một tráng niên là Hùng Sơn xin được đầu quân diệt giặc. Cha Hùng Sơn mất sớm, hai mẹ con làm lụng cần cù nuôi nhau. Là một người có sức khoẻ, lại giỏi sắn bắn, thạo nghề đi biển đánh bắt cá tôm, Hùng Sơn xin phép mẹ ra đi giết giặc cứu nước. Người mẹ vui lòng, gạt nước mắt tiễn con trai duy nhất của mình ra trận. Hùng Sơn được nhà vua giao chỉ huy đạo thuỷ binh gồm các tráng đinh miền bể. Hùng Sơn tham dự nhiều trận thuỷ chiến trên biển, giặc Ân thua to, bị quét ra khỏi cõi bờ. Nhưng trong trận tập kích cuối cùng vào trại thuỷ binh của giặc, tướng Hùng Sơn đã anh dũng hy sinh. Thi thể của Hùng Sơn được phủ bằng một cành cây lớn, cành lá xum xuê trôi về đảo quê hương tại khu gò Cốt Múa (tương truyền, mọi người thấy cành lá cư xoay tròn xung quanh thi hải của ông). Dân làng vô cùng thương tiếc, rước thi thể ông chôn cất trọng thể, rồi xây ngôi miếu thờ tưởng niệm. Thấy cành cây trôi theo thi thể Hùng Sơn đâm trồi nẩy rễ, dân làng ngắt làm ba nhánh: hai nhánh đem trồng ở khu miếu thờ, còn nhánh thứ ba đem trồng nơi bà mẹ ở. Không ai biết tên cây, dân làng gọi là “cây thơm”. Khi bà mẹ qua đời, dân làng mai táng chu đáo và cho dựng miếu thờ dưới bóng cây thơm. Ba cây thơm này hiện là những cổ thụ đang toả bóng mát tại đình, miếu thờ Hùng Sơn và miếu Tổ Mẫu ở Nghĩa Lộ.

     Do vị trí địa lý quy định, kẻ thù bên ngoài thường tấn công nước ta bằng đường biển. Và rất tự nhiên vùng biển-đảo Cát Hải trở thành một thứ “vũ khí” đầy sức mạnh của nhân dân ta trong việc chặn bàn tay xâm lược, bảo vệ cõi bờ, biên cương Tổ quốc. Có thể viện dẫn ra một vài sự kiện lịch sử minh chứng cho điều này: Trong cuộc kháng chiến chống giặc Nam Hán, cùng với cả nước, nhân dân huyện đảo Cát Hải đã đóng góp sức người, sức của giúp Ngô Vương Quyền xây dựng thế trận quyết chiến chiến lược ở vùng cửa biển Bạch Đằng. Hòn Cẩm Thạch ở Gia Luận là nơi Ngô Quyền giấu cọc gỗ được bí mật khai thác trong rừng nguyên sinh để chuẩn bị xây dựng trận địa trên cửa biển Bạch Đằng năm 938. Vùng biển-đảo Cát Bà- Vân Hải (Quảng Ninh) là nơi Thượng tướng Trần Khánh Dư ém quân chờ thời cơ tiêu diệt, đốt cháy và đánh chìm toàn bộ đoàn thuyền chở lương thực của tướng giặc Trương Văn Hổ tại vùng biển Vân Đồn (Quảng Ninh), góp phần cùng quân dân Đại Việt chôn vùi mộng xâm lăng của đế quốc Nguyên-Mông trên sông Bạch Đằng lịch sử năm 1288.

     Dưới chế độ phong kiến, nhiều cuộc khởi nghĩa chống áp bức, bóc lột của bọn vua chúa, quan lại tham nhũng đã nổ ra trên huyện đảo Cát Hải. Nhờ có địa hình hiểm trở, nên khi cuộc khởi nghĩa nông dân cuối thế kỷ 18 do Nguyễn Hữu Cầu chỉ huy chống lại triều đình Lê-Trịnh tại căn cứ Đồ Sơn bị đàn áp, một số nghĩa quân đã chạy ra đảo Cát Bà tiếp tục gây dựng căn cứ chiến đấu. Dân gian còn lưu truyền câu ca phản ánh về vai trò và vị trí của quần đảo Cát Bà đối với các cuộc nổi dậy, khởi nghĩa nông dân: “Thắng vi đế, vi vương- Bại Cát Bà vi cứ”. Khi thực dân Pháp chiếm nước ta, phong trào cần vương bùng nổ, Cát Bà trở thành địa bàn hoạt động và căn cứ địa chống Pháp của nhiều phong trào yêu nước như: cuộc khởi nghĩa Đốc Tít, phong trào chống Pháp của nghĩa quân Tiền Đức, cuộc nổi dậy của nhân dân huyện đảo do Hoàng Thống Tề chỉ huy...

    Năm 1885, Gustaf Oberg là người Thuỵ Điển được chính quyền bảo hộ Pháp cho mở một hãng buôn và được thay mặt chính quyền đánh thuế thuyền đánh cá của người Hoa ở đảo Cát Bà. Được sự giúp đỡ cả nhân dân huyện đảo, nghĩa quân Đốc Tít đã bí mật khống chế, buộc Gustat Oberg phải bí mật cung cấp vũ khí cho cuộc khởi nghĩa. Tháng 6-1885, khi nhà Thanh ký hoà ước với Pháp, quân Cờ Đen của Lưu Vĩnh Phúc phải rút về Trung Quốc. Một số đầu mục, binh lính của Lưu Vĩnh Phúc không chịu về, ở lại cùng nhân dân địa phương chống Pháp, trong số đó có Tiền Đức. Tiền Đức cùng Lãnh Pha, Lãnh Hy, Đề Hồng, Đề Hẹn phối hợp hoạt động ở vùng Đông Triều (Quảng Ninh) và vùng biển Cát Bà, có lúc lấy vùng Hà Vóc (phía Tây đảo Cái Bầu), khi lại chọn đảo Cát Bà làm căn cứ chỉ huy. Tiền Đức đã dựa vào địa hình hiểm trở vùng Trung Trang, Mái Gợ, Trà Báu…xây dựng đồn tiền phương, đồn trung, đồn hậu cần. Cả khu căn cứ được bố trí hệ thống phòng ngự kiên cố, vững chắc với các bẫy đá, hầm chông liên hoàn, thuận công tiện thủ. Tiền Đức nguyên trước là hải phỉ nổi tiếng, tự xưng là Tiền quân đô thống, sau tham gia đảng Cần Vương. Hiện trên đảo có một hang được gọi là hang Tiền Đức, thuộc địa bàn xã Việt Hải. Trong cuốn “Tự phê phán”, cụ Phan Bội Châu có nói một lần Tiền Đức đã đưa cụ hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây rất lắm thổ phỉ, không xảy ra việc gì.

    Năm 1893, thực dân Pháp đổ bộ lên đảo Cát Bà, dưới sự chỉ huy của Hoàng Thống Tề, nhân dân các đảo Cát Bà, Cát Hải nhất tề đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược. Hoàng Thống Tề là người làng Trân Châu trên đảo Cát Bà cùng người em gái là bà Hoàng Lan Vù đã tổ chức các đội nghĩa binh chiến đấu dũng cảm ngay trên quê hương mình. Cuộc khởi nghĩa của nhân dân Cát Bà, Cát Hải do Hoàng Thống Tề lãnh đạo nhanh chóng nhận được sự hưởng ứng của nhân dân các địa phương miền duyên hải Bắc Bộ như Quảng Yên, Hải Dương, Thái Bình, nghĩa quân đi đến đâu là bộ máy quan lại phong kiến tay sai sụp đổ đến đấy. Trước sự lớn mạnh và uy tín lan rộng của cuộc khởi nghĩa Hoàng Thống Tề và các phong trào chống Pháp khác như cuộc khởi nghĩa Bãy Sậy, phong trào Cần Vương, Văn Thân… triều đình Huế vội vàng cấu kết với thực dân Pháp huy động lực lượng đàn áp cuộc khởi nghĩa. Để tránh thế bao vây của địch, Hoàng Thống Tề và bộ tham mưu cuộc khởi nghĩa đã tiến vào vùng ven biển Thái Bình xây dựng căn cứ để dễ dàng liên kết với các cuộc khởi nghĩa và phong trào yêu nước chống Pháp khác. Nhưng trước thế giặc mạnh, nghĩa quân lại chưa kịp thông thổ địa hình, căn cứ còn sơ sài nên cuộc khởi nghĩa của hai anh em Hoàng Thống Tề và Hoàng Lan Vù nhanh chóng bị dập tắt. Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại nhưng nó đã khẳng định lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm của nhân dân huyện đảo Cát Hải.

     Như vậy, người dân huyện đảo Cát Hải rất dũng cảm kiên cường không chịu khuất phục trước bất kẻ thù xâm lược nào và cùng rất hiền lành, chất phác, trọng nghĩa mến tài; có lòng yêu quê hương đất nước nồng nàn, tha thiết; say sưa học tập và lao động cần cù sáng tạo; có ý thức cộng đồng dân tộc, sẵn sàng xả thân vì độc lập tự do của Tổ quốc và vì lẽ phải giúp bạn cứu đời. Đó là bản sắc quý báu của nhân dân Cát Hải đã được hun đúc và rèn luyện hàng ngàn năm qua trong sự nghiệp đấu tranh xây dựng và bảo vệ quê hương đất nước kết tinh lại. Truyền thống ấy đã được các thế hệ người Cát Hải phát huy mạnh mẽ trong đấu tranh và kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, kháng chiến chống Mỹ cứu nước và cuộc chiến tranh biên giới bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Ngày nay tất cả những tinh hoa, truyên thống tốt đẹp đó đang được nhân dân Cát Hải duy trì và phát huy để phục vụ sự nghiệp xây dựng  và bảo vệ quê hương, đất nước ngày càng giàu đẹp.     

HPH

        

   

[ Trở lại ]
  Ý kiến bạn đọc
    Ý kiến bạn đọc
 
Họ và tên:
Email:
Tiêu đề:
OFF Auto Telex VNI VIQR
 TIN NÓNG
Ra mắt trang web haiphonghoc.com
Những công trình kiến trúc xây dựng thời thuộc Pháp tại Hải Phòng
Giới thiệu dự án Vinhomes imperia
ĐÔ THỊ CỬA BIỂN
NẮNG MIỀN BIỂN
DOANH NGHIỆP XANH
ĐẾN SÀI GÒN
HÈ QUÊ BIỂN
SAO TUA RUA
GẶP GỠ MÙA HÈ
Xem toàn bộ    
 
CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN THIẾT KẾ XÂY DỰNG ĐẤT VIỆT
Địa chỉ: 246 - Đã Nẵng - Hải Phòng  *  Tel/Fax : 031. 374 6088  *  E-mail: datviet@datvietjsc.net.vn  -  minhtri@datvietjsc.net.vn
Design by in nhanh văn phòng phẩm Vietranet JSC